Khám phá các bản làng vùng cao Tây Bắc Việt Nam
Vùng núi phía Tây Bắc Việt Nam với các địa danh du lịch nổi tiếng như Sapa, Điện Biên, Mù Căng Chải, Mộc Châu, Mai Châu,… và cũng sở hữu các nhóm dân tộc thiểu số với rất nhiều phong tục, tập quán độcg, đa dạng. Đó là những phần văn hóa riêng biệt đẹp đẽ mà mỗi du khách khi đến đây đều muốn khám phá và tìm hiểu.
Dân tộc Mường
Dân tộc Mường tập trung đông đảo ở tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, nơi thu hút khách du lịch với thung lũng Mai Châu xinh đẹp hay khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông.
Người Mường thờ tổ tiên và tín vào đa thần giáo. Xưa tổ chức xã hội của người Mường là chế độ lang đạo chia nhau quản lý các vùng. Lễ cưới của người Mường gần giống người Kinh. Khi trong nhà có người sinh nở thì rào cầu thang chính bằng phên nứa. Khi trẻ lớn khoảng một tuổi mới đặt tên. Khi có người chết, tang lễ được tổ chức theo chế độ nghiêm ngặt. Ngôn ngữ thuộc nhóm Việt – Mường.
Kho tàng văn nghệ dân gian của dân tộc tộc này khá phong phú: thơ, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ. Có nhiều bài hát nổi tiếng như ru em, đồng giao, hát đập hoa, hát tranh, hát trẻ con chơi… Nhạc cụ có cồng, nhị, sáo trống, khèn lù. Có nhiều ngày trong năm: hội xuống đồng (khuông mùa), hội cầu mưa, lễ rửa lá lúa, lễ cơm mới..
Trang phục của người Mường không quá sôi sục, nam mặc quần áo màu xanh; áo mặc nữ, váy, áo ngắn thân xẻng, ít cài cúc và mặc yếm. Váy khá dài, cao đến đệm, váy dệt bằng lụa màu, có hoa văn trang trí rất đẹp. Ðầu đội khăn màu trắng hình chữ nhật.
Dân tộc Dao
Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không đông đông nhưng các làng quê của họ trải rộng tại các miền rừng dốc phía Bắc (Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang,…) đến một số tỉnh trung du như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miền biển Quảng Ninh (người Dao Thanh Y).
Phong tục tập quán của dân tộc Dao là tổ tiên (Bàn Hồ); qua bộ đệm tên xác định dòng họ và cấp thứ, ma chay theo quy tắc cũ. Một số vùng còn sót lại chôn xác cho người chết từ 12 tuổi trở lên. Tục ở rể có thời hạn và viễn viễn. Nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất, nhà sàn. Trang phục người Dao cũng khá đơn giản, nam mặc quần áo; nữ trang phục phong phú hơn với những trang trí hoa văn truyền thống, đầu đội khăn.
Người Dao sống bằng nghề trồng lúa nương, ruộng nước và hoa màu, các nghề thủ công phát triển như dệt vải, rèn, mộc …
Dân tộc H’Mông
Trong cộng đồng người Mông, mỗi dòng họ sống thành cụm do trưởng họ đảm nhiệm; tự động hôn nhân nhưng không lấy được người cùng dòng. Vợ chồng rất ít nhau. Người Mông ở nhà sàn, cấu trúc theo đường xứ lạnh, có lò hệ, có thịt thú ăn quanh năm, có món “mèn mén”, món “thắng cố” độcg. Nhạc cụ có nhiều loại khèn và môi trường. Tết tổ chức vào tháng 12 dương lịch, trong 3 ngày Tết không ăn rau xanh, nam nữ thanh niên vui xuân, thổi khèn gọi bạn.
Quần áo may bằng vải lanh tự động. Nữ mặc váy xoè rộng, áo xẻ xẻ, tạp dề trước và sau, xà hôi chân.
Kinh tế: Làm nương rẫy du canh và trồng lúa nước ở ruộng bậc thang; trồng lanh để lấy sợi vải và cây dược liệu.
Dân tộc Thái
Địa bàn cư trú của người Thái chủ yếu ở các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An. Họ có phong tục tập quán là cúng tổ tiên, cúng trời đất, cúng bản mường và nhiều nghi lễ cầu mùa. Trong hôn nhân vẫn tiếp tục ở rể khi có con gái gả chồng. Ðám ma là tiễn người chết về “mường trời”. Người Thái ở nhà sàn. Người Thái Ðen làm nhà có hình mai rùa, trang trí theo phong tục xưa.
Người Thái có vốn văn học cổ truyền kho báu quý giá: thần thoại cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao… thích ca hát, ngâm thơ, hát theo lời thơ, đệm đàn và múa (gọi là khắp). Có nhiều điệu múa: xoè Thái, múa sạp. Rất nhiều khuống, ném còn lại là đặc trưng văn hoá của đồng bào dân tộc Thái.
>> Tham khảo thêm : Danh sách 10 lễ hội truyền thống nổi tiếng nhất Việt Nam